Home » Phong Thủy - Tâm Linh » Hỏi–đáp về đạo Phật

Hỏi–đáp về đạo Phật

Zen garden Khong  Hỏi–đáp về đạo Phật             Chuyên mục « Hỏi-đáp về đạo Phật » giới thiệu với bạn đọc các bài viết ngắn gọn về kiến thức Phật giáo cơ bản.

Hiểu đúng và thực hành đúng các giáo lý đạo Phật là để xây dựng cuộc sống bình an, bất chấp mọi nghịch cảnh cuộc đời, là góp phần tạo ra một xã hội dân chủ, công bằng, là bảo vệ môi trường thiên nhiên, là góp phần lọai trừ các họat động mê tín dị đoan.

 

  Hỏi–đáp về đạo Phật             

 

 

DANH XƯNG CÁC CHƯ VỊ PHẬT

 

Phật là ai?

Phật (hay Bụt) là danh hiệu ý chỉ là  “Người tỉnh thức”. Phật là người đã dứt khỏi Luân hồi, là người đã vượt qua mọi tham ái, là người biết phân biệt thiện ác, nhưng tâm không vướng mắc vào các phân biệt đó. Sau khi chết, một vị Phật không còn tái sinh. Có 3 vị Phật tiêu biểu là Phật Thích ca, là nhân vật lịch sử cách đây hơn 2500 năm, Phật A-di-dà là trụ trì cõi Tây Phương cực lạc, và Phật Di-lặc, là vị phật sẽ tái sinh. Nhiều người gọi nôm na đó là 3 vị phật của hiện tại, quá khứ và vị lai.

 

Phật Thích ca mâu ni: (Nam mô bản sư Thích ca mâu ni Phật).

Đó là Phật đầu tiên được công nhận trong lịch sử,  thường gọi là Đức Phật. Ngài sinh năm 624 TCN, con trai của một tiểu vương quốc thuộc dòng họ Thích-ca, ngày nay thuộc nước Nepal, gần Himalaya. Vị hoàng nhi ấy đă lớn lên trong nhung lụa và xa hoa, nhưng cuối cůng sớm nhận ra rằng tiện nghi vật chất của thế gian không đủ để bảo đảm hạnh phúc. Năm hai mươi chín tuổi, chàng từ giã vợ và con, và tìm học với các bậc đạo sư vĩ đại đương thời. Sau sáu năm học tập và hành thiền, Ngài tìm ra con đường “Trung Đạo” và giác ngộ ở tuổi 35. Ngài tiếp tục ở lại thế gian trong 45 năm nữa, chu du khắp miền Bắc Ấn độ để truyền dạy cho mọi người những gì mà ngài đă chứng ngộ. Những bài thuyết pháp của Ngài được nhiều thế hệ sau lưu truyền lại được chia thành ba kho tàng: Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng (gọi là tam tạng). Ngài đă viên tịch ở tuổi 80.

 

Phật A-di-đà(Nam mô A-di-đà Phật).

A-di-đà là danh nghĩa là “ánh sáng vô lượng”, “thọ mệnh vô lượng”. A-di-đà Phật trụ trì cõi Tây phương Cực lạc. Đây là một vị Phật trong quá khứ được Phật Thích-ca nhắc tới trong một số bài Pháp của mình. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ. Phép niệm A-di-đà là một pháp tu mới của Phật tử, dựa vào Phật lực (Tha lực), trên nền tảng các đại nguyện của Phật A-di-đà, một phép tu “nhanh chóng, dễ dàng” hơn. Đó là phép tu nhất tâm niệm danh hiệu “Nam-mô A-di-đà Phật”.

 

Thân hình của vị Phật này thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Một tay của Phật A-di-đà bắt ấn thiền định, tay kia giữ một cái bát, dấu hiệu của một giáo chủ.

 

Phật Di Lặc.

Di-lặc hay  nghĩa là “người có lòng từ”, là vị Phật sẽ xuất hiện trên trái đất trong tương lai. Trong Phật giáo Tây Tạng, Bồ Tát Di-lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Trong văn học dân gian, Đức Di Lặc mang hình ảnh một ông Phật bụng phệ, miệng cười thật rộng, với các em trẻ nhỏ trèo lên người nghịch phá, kéo tai, rờ bụng, chọc mũi, nhưng Ngài vẫn thoải mái cười vui, không bực dọc. Người ta tin rằng đó chính là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng,  là một Thiền sư Trung Quốc ở thế kỉ thứ 10, một hóa thân của Di-lặc. Một số nhà nghiên cứu Phật học lý giải hình ảnh này như một biểu tượng tu học: Các em trẻ nhỏ tượng trưng cho 6 trần quậy phá, qua 6 căn NHÃN, NHĨ, TỈ, THIỆT, THÂN, Ý ( mắt tai mũi lưỡi thân ý)..

 

Bồ Tát

Bồ Tát dịch ý là Đại sĩ, chỉ có trong Phật giáo Đại thừa, Bồ Tát là một hành giả sau khi hành trì các Ba-la-mật-đa đã thành tựu Phật quả, nhưng nguyện không nhập Niết-bàn khi chúng sinh chưa giác ngộ. Yếu tố cơ bản của Bồ Tát là lòng Từ bi đi song song với Trí huệ. Các chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác.

 

Hình ảnh Bồ Tát của Đại thừa tương tự như A-la-hán của Tiểu thừa, trong đó A-la-hán tập trung vào sự giải thoát cho chính mình. (Trong Tiểu thừa không có danh xưng Bồ Tát).

 

Thật ra trong đạo Phật, người ta hiểu từ Bồ Tát với nghĩa khá rộng, không hẳn chỉ là những vị Bồ Tát thần thông quảng đại ẩn hiện khắp nơi trên cõi cao vời, mà còn là những người có tấm lòng độ lượng nhân ái, sống giữa cuộc đời thực tế này. Chính vì ý nghĩa rộng lớn của Bồ Tát như vậy nên hình ảnh của đạo Phật gần gũi, đẹp đẽ và sống động.

 

Bồ Tát Địa Tạng là vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử. Bồ Tát Quán Thế Âm luôn lắng nghe và thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến mình lúc gặp hiểm nguy. Đại Thế Chí Bồ Tát là một vị bồ tát của ánh sáng trí tuệ. Phổ Hiền Bồ Tát là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân hóa độ.

 

Bồ Tát Quán Thế Âm

Quán Thế Âm là một trong những vị Bồ Tát trong Đại thừa. Nghĩa tên ngài là quán  chiếu thế giới, lắng nghe mọi tiếng thế gian. Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm Bồ Tát thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến Ngài lúc gặp hiểm nguy.

 

Tại Ấn Độ và các nước thuộc Nam Á, Quán Thế Âm Bồ Tát được tôn thờ là người nam, nhưng tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật, Quán Thế Âm Bồ Tát lại có tên là Quan Âm, hay được vẽ hoặc tạc tượng như một người nữ, gọi là “Phật Bà”. Thông thường ta thấy tượng của Ngài có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu (Sự tích là : lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Bồ Tát đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Bồ Tát mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt). Trên đầu Ngài đôi khi lại có tượng Phật A-di-đà. Trên tay có khi thấy Bồ Tát cầm hoa sen hồng (vì vậy nên Quán Thế Âm Bồ Tát cũng có tên là Liên Hoa Thủ – người cầm hoa sen, padmapāṇi) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ (amṛta). Số tay của Bồ Tát biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống.

 

Ở Tây Tạng, người ta xem xem Đạt-lại Lạt-ma như là một hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.

 

A-la-hán

A-la-hán là danh từ chỉ một Thánh nhân, một người đã đạt cấp “vô học” (không cần phải học gì nữa, vì cái gì trên đời cũng biết), không bị ô nhiễm và Phiền não chi phối. A-la-hán là các vị đã giải thoát 10 trói buộc thế gian như: ngã kiến, nghi ngờ, chấp đắm giới luật, tham, sân hận, sắc tham, vô sắc tham, kiêu mạn, hồi hộp không yên (trạo cử ), vô minh. A-la-hán được xem là người đã từ bỏ ô nhiễm, bỏ các gánh nặng, đã đạt mục đích và tâm thức đã được giải thoát. Một A-la-hán có khi còn sống thì dù đời là bể khổ thì vẫn ung dung, tự tại nên còn gọi là Hữu dư Niết-bàn, khi A-la-hán này viên tịch thì gọi là nhập Vô dư Niết bàn. Trong Tiểu thừa, Alahán đựoc xem như Bồ Tát của Đại thừa.

.

Lâm – sưu tầm và biên tập.

  (965)

Viết bình luận